Thứ 7 - Ngày 18/01/2020
CHÀO MỪNG QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN ĐẾN VỚI WEBSITE TRUNG TÂM XÚC TIẾN DU LỊCH THÁI BÌNH
Tổng quan về Thái Bình
KHÁI QUÁT VỀ TIỀM NĂNG DU LỊCH THÁI BÌNH

26/06/2014

    Thái Bình là một tỉnh đồng bằng, có địa hình bằng phẳng, sông ngòi, hồ ao nhiều, khí hậu mát mẻ, giao thông thuận tiện, có nhiều làng nghề với nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống có giá trị; nhiều di tích lịch sử và văn hóa với các lễ hội, trò chơi, điệu múa dân gian đặc sắc, hấp dẫn. Đó là những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế du lịch.

Thái Bình là một tỉnh nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh là địa bàn chịu tác động lớn của quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong vùng. Thái Bình cách thủ đô Hà Nội 110km, cách thành phố Hải Phòng 70km, có trên 50km bờ biển với 5 cửa sông lớn (Ba Lạt, Lân, Trà Lý, Diêm Điền, Thái Bình), nên thuận lợi cho giao lưu kinh tế hướng ra biển.

Trong quy hoạch phát triển du lịch Quốc gia, Thái Bình nằm trong không gian trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận, thuộc vùng du lịch Bắc Bộ với tiềm năng du lịch sinh thái; du lịch văn hóa, lễ hội, làng nghề, du lịch biển độc đáo,…Thái Bình có vị thế kề cận trung tâm du lịch biển Hải Phòng, Hạ Long - Di sản văn hóa thế giới. Đó là một điểm mạnh để hình thành các tuyến du lịch liên tỉnh và quốc tế.

Nghị quyết Đại hội XV và XVI của Đảng bộ Thái Bình xác định, để đạt được nhịp độ tăng trưởng GDP trung bình từ 2001-2005 là 7%; từ 2006-2010 là 9.96%, cơ cấu kinh tế của tỉnh sẽ thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng GDP dịch vụ thương mại từ 14,7% (năm 1990) lên 27,89% (năm 2000) và dự kiến năm 2010, khối dịch vụ thương mại sẽ chiếm 30% tổng GDP của tỉnh. Đây là mục tiêu đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của ngành du lịch tỉnh, đồng thời càng khẳng định vị trí quan trọng của kinh tế du lịch trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Thái Bình.

Với những điều kiện thuận lợi về địa lý, dân cư và đặc thù của vùng đất lấn biển vừa cổ xưa, vừa mới mẻ, Thái Bình được xem là một trong những nơi có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế du lịch.

Cùng với tài nguyên du lịch sinh thái - tự nhiên, còn có tài nguyên du lịch nhân văn. Theo thống kê, Thái Bình có trên 1.400 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có 261 di tích được xếp hạng;  các di tích lịch sử - văn hóa được phân bố ở khắp các huyện, thị trong tỉnh. Những di tích quan trọng có ý nghĩa chính trị, văn hóa và phục vụ phát triển kinh tế du lịch. Chẳng hạn, cụm di tích Thành phố Thái Bình và vùng phụ cận, bao gồm: Khu di tích chùa Keo, đền Đồng Xâm, chùa  Đoan Túc, đình Thượng Liệt, khu lưu niệm Bác Hồ, cụm di tích Hưng Hà, bao gồm: Khu lăng mộ các vua Trần, cung Long Hưng, từ đường Lê Quý Đôn, đền Tiên La, Chùa Diệc… cụm di tích đền Đồng Bằng và phụ cận, gồm: Di tích các đình An Cổ, Vân Đồn, Ngũ Thôn, Bích Đoài, Tử Các, khu lưu niệm Nguyễn Đức Cảnh… Đó là những cụm, nhóm di tích - lịch sử văn hóa có giá trị và khả năng thu hút khách du lịch cao. Mỗi nhóm di tích trên đều có những nội dung và đặc trưng khác nhau, có thể khai thác kết hợp với du lịch sinh thái để hình thành các tuyến du lịch tổng hợp và tuyến du lịch chuyên đề.

Bên cạnh mạng lưới di tích lịch sử - văn hóa, còn có làng nghề với nhiều lớp nghệ nhân đã tạo ra những sản phẩm độc đáo, từ lâu được khách du lịch trong nước và ngoài nước biết đến. Không ít sản phẩm đã được mang đến triển lãm tại Hội chợ Paris những năm đầu thế kỷ XX.

Những năm qua, kinh tế - xã hội ở Thái Bình có sự ổn định và phát triển; đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, nhu cầu nghỉ ngơi, bồi dưỡng sức khỏe và du lịch của người dân cũng tăng lên. Điều đó được thể hiện qua số lượng khách du lịch nội tỉnh và trong nước tăng nhanh, đó là lợi thế quan trọng để Thái Bình phát triển kinh tế du lịch, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể.

II.            TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG DU LỊCH THÁI BÌNH

  1. Tổ chức hoạt động du lịch

Nhận thức rõ vị trí và vai trò của kinh tế du lịch trong phát triển kinh tế xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Tỉnh ủy, UBND tỉnh quyết định giao chức năng quản lý nhà nước về du lịch cho Sở Thương Mại, đổi tên sở thành Sở Thương mại – Du lịch; Thành lập Phòng Quản lý du lịch thuộc Sở, nhằm mục đích quản lý và khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch sẵn có, thu hút khách du lịch, tăng doanh thu, tiến tới đưa du lịch trở thành nghành kinh tế quan trọng của tỉnh. Năm 2002, UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo phát triển du lịch của tỉnh, gồm lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành có liên quan phối hợp chỉ đạo thực hiện chương trình phát triển du lịch. Song song với việc củng cố tổ chức, tăng cường công tác quản lý Nhà nước về du lịch, UBND tỉnh Thái Bình tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. Trong năm 2003 - 2004, xây dựng các cầu Trà Lý, Mỹ Hà; nâng cấp và cải tạo nhiều tuyến đường dẫn đến các khu du lịch trọng điểm như: Cải tạo đường 220B đi vào khu di tích chùa Keo (Vũ Thư), nâng cấp đường vào khu nghỉ mát Đồng Châu (Tiền Hải), nâng cấp đường 217 (đoạn từ ngã ba Đọ đi Quỳnh Côi, bến Hiệp),… Đồng thời, nâng cấp hàng trăm km đường giao thông nông thôn, làm mới nhiều cầu, cống, tạo điều kiện thuận lợi cho khách tham quan, du lịch đến với các làng nghề và các di tích lịch sử - văn hóa ở nhiều địa phương trong tỉnh.

Bên cạnh việc đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông, những năm gần đây, Thái Bình tích cực đầu tư, nâng cấp các cơ sở lưu trú; phục hồi, nâng cấp các làng vườn, làng nghề, tôn tạo và phục hồi các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội truyền thống, đầu tư phát triển các tuyến du lịch, xây dựng các khu du lịch sinh thái, các công trình vui chơi, giải trí…

Những cố gắng đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch. Mặt khác, trên cơ sở của việc đánh giá, xác định tiềm năng du lịch, các tuyến du lịch và điểm du lịch chủ yếu, chính quyền địa phương và ngành du lịch Thái Bình tạo điều kiện để các thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh tế du lịch. Đến nay, đã có 4 dự án du lịch được cấp phép đang đầu tư với tổng số vốn dự kiến là 4,71 triệu USD và 12 dự án đề nghị đầu tư, với tổng số vốn dự kiến là 182 triệu USD. Những dự án được cấp phép đang đầu tư tập trung chủ yếu vào du lịch văn hóa, lễ hội và du lịch tham quan, tắm biển.

Bảng 1: Các dự án du lịch được cấp phép đang đầu tư ở Thái Bình (2002-2010)

TT

Tên dự án

Địa điểm đầu tư

Đặc điểm dự án

Dự kiến vốn (triệu USD)

1

Dự án bảo tồn, tu bổ, tôn tạo di tích chùa Keo

Huyện Vũ Thư

Du lịch văn hóa lễ hội, thăm quan danh thắng

1,0

2

Dự án bảo tồn, tu bổ khu di tích nhà Trần

Huyện Hưng Hà

Di tích văn hóa, tham quan, nghiên cứu lịch sử, dân tộc học

1,39

3

Dự án nâng cấp khách sạn du lịch Thái Bình

Thành phố Thái Bình

Nghỉ ngơi, giải trí.

 

1,0

4

Dự án đầu tư khai thác vùng kinh tế Cồn Vành kết hợp với bảo vệ quốc phòng và du lịch

Huyện Tiền Hải

Du lịch, tham quan, tắm biển

1,32

 

Một số dự án khác, như đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, xúc tiến quảng cáo, phục hồi làng truyền thống đồng bằng Bắc Bộ, mở rộng loại hình du lịch làng nghề, du lịch lịch sinh thái làng vườn, vv… cũng được xem xét và chuẩn bị các kế hoạch đầu tư.

  1. Tình hình kinh doanh du lịch

Trong những năm qua, với sự cố gắng của toàn ngành du lịch Thái Bình và sự ủng hộ của các cấp, các ngành trong tỉnh, hoạt động kinh doanh du lịch Thái Bình đạt kết quả đáng phấn khởi. Hàng năm, số lượt khách đến công tác, nghiên cứu, tìm hiểu thị trường, đầu tư buôn bán và tham quan du lịch ngày càng đông (mức tăng trưởng bình quân 18%/năm). Năm 2000, lượng khách du lịch Thái Bình là 92.420 lượt người, năm 2002 là 110.000, đến năm 2005 đã lên tới 185.000 (tăng gấp 2 lần so với năm 2000). Tổng doanh thu năm 2000 là 15,7 tỷ đồng, năm 2002 là 30.5 tỷ đồng, đến năm 2005 là 56,0 tỷ đồng, tăng gấp 3,5 lần so với năm 2000, tôc độ tăng trưởng về doanh thu du lịch đạt 26,6%/năm (chiếm 0,25% của cả nước) cơ cấu doanh thu có tỷ lệ khá cân đối, bình quân doanh thu buồng ngủ chiếm 39%, doanh thu ăn uống chiếm 37% và doanh thu dịch vụ khác chiếm 24%.

Bảng 2: Kết quả hoạt động kinh doanh của ngành du lịch Thái Bình (2000-2005)

TT

Khách du lịch

(lượt khách)

Doanh thu du lịch

(triệu đồng)

Nộp ngân sách

(triệu đồng)

1999

88.240

12.182

630

2000

94.426

18.700

910

2001

96.000

17.200

1.100

2003

98.560

19.540

1.500

2005

99.768

24.760

1.900

 

Với đà phát triển của các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội trong tỉnh, ngành du lịch Thái Bình đang đứng trước những triển vọng mới, tốt đẹp. Dự báo những năm tới, số lượng khách du lịch khoảng 220.000 lượt khách/năm, do đó, cần phải tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ du lịch, hoạch định các khu vực ưu tiên phát triển các cụm, điểm du lịch trên phạm vi toàn tỉnh. Mặt khác, cần nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm du lịch, giảm dần và hướng đến khắc phục tính thời vụ trong kinh doanh, tạo cho du khách sự thoải mái, hứng thú và gây ấn tượng tốt về tình hình du lịch Thái Bình. Trong điều kiện hiện nay, cần xây dựng chế độ kích thích vật chất đối với các vùng, các địa phương có hoạt động du lịch. Xây dựng tỷ lệ đóng góp đầu tư cho địa phương  nơi có hoạt động du lịch, căn cứ vào hoạt động của các doanh nghiệp. Như vậy,  vừa nâng cao trách nhiệm của người dân địa phương đối với sự phát triển du lịch trên địa bàn, vừa cư dân, chính quyền địa phương được hưởng lợi ích từ hoạt động du lịch.

III.            CÁC TUYẾN, ĐIỂM VÀ CỤM DU LỊCH TRỌNG ĐIỂM

  1. Các tuyến du lịch

Hiện nay ở Thái Bình đã hình thành các tuyến du lịch nội tỉnh và liên tỉnh. Tuyến du lịch nội tỉnh gồm 5 tuyến chính, đối tượng tham quan chính là các danh lam, thắng cảnh, làng nghề, các vùng sinh thái – văn hóa biển.

Bảng 3: Các tuyến du lịch nội tỉnh chủ yếu ở Thái Bình (2005)

TT

Tuyến tham quan

Đối tượng tham quan

1

Thành phố Thái Bình- làng vườn Bách Thuận – Chùa Keo - Thành phố Thái Bình

Các di tích lịch sử văn hóa tại thị xã Thái Bình, làng nghề thêu Minh Lãng, làng vườn Bách Thuận, các xưởng ươm tơ- Di tích lịch sử- văn hóa chùa Keo, đền Bổng Điền

2

TP Thái Bình – Đền Tiên La- khu lăng mộ các vua Trần – từ đường Lê Quý Đôn- TP Thái Bình

Các di tích lịch sử- văn hóa tại thị xã Thái Bình.

Khu di tích lịch sử đền Tiên La, khu mộ cổ các vua Trần, từ đường danh nhân Lê Quý Đôn (nhà bác học Việt Nam thế kỷ XVIII), đền Lưu Xá, làng chiếu Hới, làng dệt Mẹo

3

TP Thái Bình- làng Khuốc, làng Nguyễn, đình , chùa Phủ Gạch (xã Đông Xá) đền Đồng Bằng – Tp Thái Bình

Các di tích lịch sử- văn hóa tại Thị xã Thái Bình

Làng vui chơi, làng văn hóa Khuốc Nguyên

Làng kháng chiến và múa rối nước Nguyên Xá

Di tích lịch sử - văn hóa đền Đồng Bằng, nhà lưu niệm Bác Hồ, làng dệt chiếu An Vũ, đình Đông Linh, khu sinh thái Miếu Sổ, đền Hòe Thị.

4

Tp Thái Bình – Diêm Điền- Tiền Hải- Đồng Châu- Tp Thái Bình

Các di tích lịch sử - văn hóa và các khu vui chơi giải trí tại Thị xã Thái Bình

Làng nghề trạm bạc Đông Kinh, đình Phất Lộc

Khu di tích vùng ngập mặn  Thụy Trường

Khu di tích đền An Cổ, đền Chòi

Khu lưu niệm Nguyễn Đức Cảnh

Khu công nghiệp và cảng biển Diêm Điền

Khu công nghiệp Tiền Hải, bãi biển Đồng Châu, Cồn Vành

5

Tp Thái Bình- cửa Trà Lý (tuyến đường sông Trà Lý)

Các di tích lịch sử - văn hóa và các khu vui chơi giải trí tại thị xã Thái Bình

Tham quan di tích lịch sử Chùa Am, làng nghề chạm bạc Đồng Xâm, khu du lịch sinh thái rừng ngập mặn Thụy Trường

 

 

Bảng 4: Các tuyến du lịch liên tỉnh chủ yếu ở Thái Bình (2005)

TT

Tuyến du lịch

Nơi đi và điểm đến

1

Tuyến đường bộ

TP Thái Bình- Hải Phòng – Hạ Long

TP Thái Bình- Nam Định- Hà Nội

TP Thái Bình – Phố Hiến (Hưng Yên)- Hà Nội

TP Thái Bình – Hải Phòng- Hải Dương-  Hà Nam- Ninh Bình – Nam Định – Thái Bình

2

Tuyến du lịch đê sông Hồng

Hà Nội- Đa Hòa Dạ Trạch – Phố Hiến (Hưng Yên)

Bách Thuận – Đồng Châu- Diêm Điền – Đồ Sơn

3

Tuyến du lịch đê sông

TP Thái Bình- Phố Hiến – Đa Hòa Dạ Trạch (Hưng Yên) – Bát Tràng (Hà Nội)

TP Thái Bình – Bách Thuận – Chùa Keo – Cồn Vành- Nam Định

4

Tuyến du lịch đê biển

Diêm Điền – Bãi tắm Đồng Chấu- Cồn Vành – Nam Định

Diêm Điền – Đồ Sơn  (Hải Phòng)- Hạ Long

 

  1. Các điểm du lịch chính

2.1 Chùa Keo

Chùa Keo tọa lạc tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư; là một di tích kiến trúc, nghệ thuật cấp siêu hạng của Thái Bình, được Nhà nước công nhận từ năm 1957. Chùa được xây dựng năm 1630 với quy mô lớn, chạm gỗ tinh xảo, thể hiện phong cách thời Lê.

Theo văn bia và địa hạ chùa Keo, diện tích toàn khu kiến trúc rộng 28 mẫu (108.000m2; bề ngang gần 500 mét, chiều sâu 200 mét). Nếu chỉ tính 154 gian của 21 công trình, chùa đã có diện tích 58.000m2. Hiện tại, toàn bộ kiến trúc chùa Keo còn 17 công trình với 128 gian. Chùa Keo là một tổ hợp kiến trúc chùa - đền, thờ Phật và Thiền Sư Không Lộ (thời Lý – thế kỷ XI).

Chùa Keo từ lâu đã được coi là một di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng của Thái Bình và của cả nước, một điểm du lịch có sức thu hút lớn đối với khách trong nước và ngoài nước.

Một năm chùa Keo có hai lần mở hội:  Hội Xuân được tổ chức vào ngày 4 tháng giêng âm lịch; hội tháng 9 (vào các ngày 13,14,15 âm lịch). Hai hội này có nội dung, tính chất và hình thức hoàn toàn khác nhau.

Hội vui xuân là hội cầu may và đón xuân, với ba trò vui chính: Thi bắt vịt, thi ném pháo và thi thổi cơm. Trong truyền thống, hội vui xuân do 8 giáp làng Keo đứng ra tổ chức.

Hội tháng 9 là hội chính ở chùa Keo, thu hút hàng vạn phật tử, du khách tới dự và tham quan, vãng cảnh chùa. Dân gian có câu:

“Dù cho cha mắng mẹ treo

Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm”

Nếu hội xuân ở chùa Keo vừa có tính chất thi hài, vừa là hội làng về phong tục, thì hội chùa Keo tháng 9 mang đậm tính chất lễ hội lịch sử, văn hóa, được gắn kết với cuộc đời Thiền sư Không Lộ. Điệu múa cổ ếch vồ và bơi chải cạn trong hội chùa Keo tháng 9 được xem là di sản độc đáo của vùng sông nước đồng bằng Bắc Bộ, mà đến nay vẫn là mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

3.2    Khu lăng mộ các vua Trần và đền Trần

Khu lăng mộ các vua Trần ở thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà.

Tam Đường có tên cổ xưa là Thái Đường, thuộc huyện Ngự Thiên, phủ Long Hưng, thời Trần. Bảy trăm năm trước, khi nhà Trần lên ngôi đã chọn vùng Tức Mặc, Thiên Đường (Nam Định) – quê tổ 4 đời, làm nơi xây dựng hành cung để nghỉ ngơi và chọn Thái Đường Ngự Thiên làm nơi đặt lăng mộ. Trong số 14 vị vua triều Trần thì có gần một nửa các vua và hoàng hậu, sau khi tạ thế được đưa về an táng ở Ngự Thiên và có lăng miếu phụng thờ. Thọ Lăng, Chiêu Lăng, Dụ Lăng, Đức Lăng là nơi an táng Thái Thượng hoàng Trần Thừa và các vua Thái Tôn, Thánh Tôn, Nhân Tôn. Tuy nhiên, Thái Đường không hẳn chỉ là nơi đặt lăng tẩm, ở đây còn có những hành cung, đền, miếu lớn lộng lẫy, như điện Thiên An, điện Diên Hiền, thềm Thiên Trì… khu vực này có hai đội quân lớn mang tên Hải Khẩu và Hổ Dục ngày đêm bảo vệ. Hơn nữa, vây quanh khu lăng tẩm, đền, miếu là các điền trang, thái ấp lớn của các vương hầu, quý tộc nhà Trần; trong đó nổi tiếng là thái ấp của Trần Nhật Hiệu ở thôn Dương Xá (một trong số 3 thôn của làng Thái Đường). Theo ghi chép của Lê Quý Đôn, ở đó có mộ.

Trần Nhật Hiệu rộng chừng 5 sào, nằm cạnh một ngôi mộ của ai không rõ cũng rộng chừng 5 sào, trên đó có rùa đá, bia đá và 8 mẫu tự điền!

Cho đến trước khi nhà Trần di chuyển hài cốt các vua đầu nhà Trần ở Long Hưng về An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh), nhân dân trong vùng không chỉ được tham dự những buổi mai táng, tế tự long trọng của triều đình đối với các vua, hoàng hậu và các bậc công hầu, mà còn được chứng kiến và tham dự những sự kiện có ý nghĩa chính trị quốc gia. Đó là những cuộc viếng thăm, những buổi làm lễ mừng chiến thắng quân xâm lược , do đích thân các vua Trần đứng ra tổ chức; để tạ ơn tổ tiên đã phù hộ cho con cháu giữ vững cơ nghiệp tổ tông đất nước.

Theo sử sách, trong những ngày lễ lớn tại Thái Đường, “Nghi tượng kéo qua nghìn cửa đón chào nghiêm túc, áo mũ các quan đủ cả bảy phẩm”, dân trong vùng xem là ngày hội lớn, tại các đình chùa đều nổi chiêng trống tế thành hoàng và lễ Phật; trên các sân đình trai tráng đánh gậy, dưới sông thi bơi trải, thi bắt vịt, nhà nhà tổ chức ăn mừng chiến thắng.

Năm tháng trôi qua, nhiều công trình đã bị hư hại, đang được khôi phục lại. Cũng với các cụm di tích khác, như lăng mộ Thái hậu Trần Thị Dung (bà chúa Ngừ), lăng mộ Thái sư Trần Thủ Độ (ở xã Liên Hiệp), khu lăng mộ các vua Trần thực sự là một cụm di tích có quy mô lớn và rất có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng dân tộc.

2.3    Cụm di tích lưu niệm danh nhân Lê Quý Đôn.

Ở Hưng Hà, Thái Bình hiện vẫn còn cụm di tích liên quan đến danh nhân văn hóa Lê Qúy Đôn. Tổng thể di tích lưu niệm danh nhân Lê Quý Đôn bao gồm:

 

  • Khu từ đường

Từ đường gồm 2 tòa, mỗi tòa 3 gian. Phía trước là hai nhà bia đặt, một bên là bia “Hà Quốc Công bi ký”, được làm vào năm Tự Đức thứ 12 (1860) do cử nhân Phạm Chi Hưởng, cháu ngoại của Lê Trọng Thứ soạn lời.

Ba gian điện thờ (hậu cung) là nơi khám gian, ngai, bài vị thờ tổ họ Lê, dưỡng tổ của họ Lê và tượng tiến sỹ Lê Trọng Thứ (thân sinh Lê Quý Đôn) và tượng Lê Quý Đôn

  • Lăng Tiến sỹ Lê Trọng Thứ, nằm cách từ đường khoảng 150 mét về phía đông. Đây là nơi yên nghỉ của ông.
  • Khu hồ Lê Quý Đôn, nằm cạnh từ đường. Trong hồ có một khu đất nổi cao. Sinh thời, Lê Quý Đôn đã cho xây một nhà thủy tạ. Đây là nơi bảng nhãn Lê Quý Đôn tiếp khách, đọc và viết sách (1742-1752), nghỉ ngơi trong 3 năm cáo quan.

Cụm di tích này được Bộ Văn hóa xếp hạng Quốc gia năm 1987.

2.4    Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Khu lưu niệm đặt tại xã Tân Hòa, huyện Vũ Thư, cách Thành phố Thái Bình 15 km về phía tây.

Năm 1965, Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, văn phòng Ban Thường vụ Tỉnh Thái Bình sơ tán về thôn Đại Đồng, xã Tân Hòa huyện Vũ Thư. Để động viên cán bộ và nhân dân Thái Bình thi đua sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, Bác đã về thăm Thái Bình vào cuối năm 1966. Chiều tối ngày 31-12, đồng chí Ngô Duy Đông- Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Lê Thị Định vinh dự được cử đi đón Bác tại bến phà Triều Dương. Vì điều kiện thời chiến, xe Bác qua phà rất bí mật. Đoàn xe không bật đèn, chạy thẳng đến bến đò Cống Vực để qua sông Trà Lý sang đất Thư Trì. Sáng hôm sau, Bác gặp mặt cán bộ và nhân dân ở đình Phương Cáp (Hiệp Hòa). Đây là lần cuối cùng Bác về thăm Thái Bình. Nơi Bác đã nghỉ lại đêm giao thừa 1966-1967 được xây thành Khu lưu niệm chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngoài khu nhà lá là di tích gốc, năm 1974, Tỉnh ủy, UBND tỉnh còn quyết định xây dựng bổ sung thêm ngôi nhà trưng bày và nhà khách. Hàng năm, vào dịp sinh nhật Bác (19-5) và Quốc Khánh 2-9, Đảng bộ và nhân dân địa phương cùng các ngành, các cấp trong tỉnh thường tổ chức lễ dâng hương và tổ chức cho cán bộ và nhân dân tham quan lưu niệm để tưởng nhớ công ơn của Người. Trong những năm gần đây có nhiều đoàn khách quốc tế đến tham quan Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khu lưu niệm này đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia.

2.5    Đền Đồng Bằng, đền Tiên La và đền Đồng Xâm.

Đền Đồng Bằng còn có tên  là đền Đức Vua hoặc Bát Hải Đông đình thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, được Bộ Văn hóa cấp bằng di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia năm 1986. Đây là nơi thờ những anh hùng có công đánh giặc, giữ nước, trong đó có các danh tướng thời Trần, đặc biệt là Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn.

Toàn bộ khu di tích rộng gần 20.520m2, riêng khu nội tự 6.000m2. Đền chính thức được xây dựng theo kiểu “Tiền nhị, hậu đinh” như một lâu đài, gồm 13 tòa, 66 gian, liên kết chặt chẽ với kiến trúc công trình phụ, tạo thành một quần thể kin trúc bế thế, uy nghi. Nghệ thuật chạm khắc và trang trí trên gỗ ở đây đạt tới độ tinh xảo, đặc biệt là hệ thống hoành phi, cân đối, con sơn, cửa võng. Hàng năm, cứ đến tháng tám âm lịch, vào dịp hội đền, hàng vạn du khách thập phương về dự. Đã từ lâu, hội đền Đồng Bằng được xếp vào hàng hội lớn của vùng đồng bằng Bắc Bộ.  Dân gian có câu ca:

“ Dù ai buôn bán trăm nghề

20 tháng 8 nhớ về Đào thôn”

Hội đền Đồng Bằng mở trùng với hội đền Kiếp Bạc (Hải Dương) vào ngày mất của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn (20-8). Hội lễ có tục bơi trải, đua thuyền rất hấp dẫn, gợi nhớ trận thủy chiến Bạch Đông trong cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên lần thứ 3 (1288) của dân tộc.

  • Đền Tiên La (Tiên La linh từ) nằm trên một gò đất cao, diện tích gần 4000m2, thuộc thôn Tiên La, xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, thờ Bát Nạn tướng quân Vũ Thị Thục – một nữ tướng của Hai Bà Trưng.

Tướng quân Vũ Thị Thục hy sinh tại căn cứ gò Kim Quy. Nhân dân trong vùng lập đền thờ bà để ghi nhớ công ơn. Hàng năm, mở hội vào ngày 16 tháng 3 âm lịch. Trong lễ hội có rước kiệu Thánh và các trò chơi chọi gà, đánh cờ, múa võ, bơi trải và diễn trận.

Hội Đền Tiên La được xếp vào hội lớn của vùng thu hút đông khách thập phương về dự. Đền Tiên La  được xây theo kiểu “Tiền nhất, hậu đinh” với 3 tòa chính là tiền tế, đệ nhị và hậu cung; đã qua nhiều lần tu sửa.

Đền Tiên La không chỉ có giá trị lịch sử, văn hóa mà còn có giá trị về kiến trúc, nghệ thuật. Nét đặc sắc trong kiến trúc của đền là sự kết hợp giữa kiến trúc gỗ và đá. Trong đền còn nhiều hiện vật quý.

Đền đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1987.

  • Đền Đồng Xâm

Khu di tích đền Đồng Xâm thuộc làng Đồng Xâm, xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương là một tổ hợp di tích gồm đền Đồng Xâm, đền thờ Trình Thị Hoàng Hậu (vợ của vua Triệu Vũ Đế) và đền thờ Nguyễn Kim Lâu ( thế kỷ XV) – vị tổ nghề trạm bạc cổ truyền và hệ thống đền, chùa liền kề, cạnh sông Vông.

Theo thần tích đền Đồng Xâm, ngôi đền cổ được xây dựng vào thế kỷ III sau Công nguyên, về sau mục nát. Từ năm 1920-1925, nhân dân ở 13 làng của tổng Đồng Xâm cũ đã góp tiền xây dựng lại ngôi đền theo kiến trúc thời Nguyễn.

Đền Đồng Xâm được xây dựng trên một khu đất rộng, thoáng từ bờ sông đông sang bờ tây sông Đông Giang  (sông Vông). Nhìn chính diện từ cửa đền, bờ phía tây là các tòa, các lâu 5 cửa, cao gần 20 mét. Dưới sông, gần bờ phía đông là tòa thủy tạ hình lục lăng, trên sông xây dựng hai cầu gạch lớn, làm thành hai đường đưa khách tham quan vào khu đền chính.

Đồng Xâm là làng nổi tiếng bởi nghề kim hoàn. Khám gian đặt tại hậu cung là một tác phẩm độc đáo mang nét đặc thù của nghệ thuật kim hoàn Đồng Xâm; được phong kín bằng những lá đồng chạm thủng, với các đề tài tứ linh, tứ quý, lưỡng long chầu nguyệt…

Dưới ánh sáng của những ngọn nến trong khám gian, những lá đồng với nét chạm trổ tinh xảo đã tạo ra quầng sáng huyền ảo, linh thiêng. Trong khám đặt tượng Triệu Vũ Đế và Hoàng hậu Trịnh Thị. Cả hai pho tượng đều được đúc bằng đồng khảm vàng thiếp bạc. Trong khám thờ còn có nhiều hiện vật quý, trong đó có kiếm đúc bằng vàng, búa sắt, theo giai thoại, đó là báu vật của Triệu Vũ Đế để lại.

Hàng năm, hội đền Đồng Xâm mở vào ngày 1-4 âm lịch. Để có hội tháng 4, ngay từ cuối tháng 3 các chức sắc trong xã, thôn đã phải họp bàn, chọn người giữ sức mạnh bái (chủ tế) để đọc chúc văn, đọc thông xướng, tổ chức doàn rước và các trò chơi dân gian độc đáo, đặc biệt là trò thi bơi chải truyền thống. Trai, gái làng Đồng Xâm có tài bơi chải nên hàng năm, hội làng trở thành tụ điểm của những nghệ nhân và những người ưa thích môn nghệ thuật này. Vào ngày hội, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp lộng lẫy của đền, sự náo nức, hấp dẫn của các trò chơi, mà còn được chứng kiến tài hoa của nghệ nhân, thông qua các sản phẩm trạm bạc của làng được trưng bày và bán lưu niệm.

Đồng Xâm trong quá khứ và hiên tại vẫn nổi danh là một làng nghề - làng văn hóa dân gian đặc sắc, một điểm du lịch hấp dẫn khách tham quan trong và ngoài nước.

2.6    Làng kháng chiến Nguyên Xá

Nguyên Xá còn có tên làng Nguyễn, nằm ở trung tâm huyện Đông Hưng. Nguyên Xá vốn là một làng Việt cổ, nổi tiếng về văn hóa sản xuất, văn hóa vũ trang, văn nghệ dân gian, học hành khoa bảng. Truyền thống văn vật, văn hiến của các thế hệ cư dân ở đây được duy trì và phát triển trong mọi thời kỳ lịch sử, từ cách mạng giải phóng dân tộc đến kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhiều thập niên qua, “hiện tượng làng Nguyễn” đã thu hút hàng trăm nhà khoa học, nhà nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật trong và ngoài nước, thuộc nhiều cơ quan khác nhau, tìm về nghiên cứu, đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về làng Nguyễn đã được công bố bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Chỉ dưới góc độ làng Nguyễn – “Làng kháng chiến kiểu mẫu” trong kháng chiến chống Pháp, cũng đã cuốn hút khách du lịch.

Thực hiện chủ trương mỗi làng trở thành một pháo đài chống Pháp của Trung ương Đảng và Chính phủ, quân dân Nguyên Xá huy động sức lực đào đắp trên 16 nghìn m3 đất, hàng chục nghìn mét hào giao thông, hầm hố và dậu tre để tạo thành lá chắn vững chắc bao quanh làng kháng chiến. Với quyết tâm cao và ý chí dũng cảm kiên cường quân dân làng Nguyễn đã chiến đấu anh dũng, đánh địch 184 trận lớn, nhỏ, tiêu diệt 312 tên địch, giữ vững làng kháng chiến. Nguyên Xá vinh dự được nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ Làng kháng chiến kiểu mẫu. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân dân Nguyên Xá đã giữ vững danh hiệu  “Thóc thừa cân, quân không thiếu”, dẫn đầu nhiều năm về năng suất lúa của tỉnh Thái Bình. Trong hai cuộc chiến tranh chống phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ, Nguyên Xá đã phải hứng chịu 46 quả bom xuyên gây nhiều thiệt hại về người và của. Nhưng, chúng đã phải bỏ lại ở đây hai xác máy bay. Với những thành tích nêu trên Nguyên Xá được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Để có được những thành tích to lớn đó, ngay từ những năm đầu đánh Mỹ, Nguyên Xá đã mở chiến dịch “ kết hợp xây dựng kinh tế với giao thông quốc phòng”.  Kết quả, đã đào đắp 40.000m3 kênh mương, giao thông hào; lập một tổ dân quân trực chiến, chia thành 4 ổ chiến đấu, được trang bị 5 khẩu trung liên. Ngày 19/12/1967, bằng 84 viên đạn bộ binh, tổ đã bắn rơi chiếc máy bay F4 của Mỹ. Bốn năm sau, vào đêm ngày 6/9/1972, một máy bay phản lực Mỹ cũng phải đền tội bởi các tay súng của quân dân làng Nguyễn.

Không chỉ “giỏi tay cày, chắc tay súng”, người dân làng Nguyễn còn khéo tay trong chế biến nông sản, thực phẩm và làm nghề thủ công. Từ lâu, sản phẩm bánh cáy và pháo bông làng Nguyễn được nhiều người biết đến. Ngày nay, làng Nguyễn được xem là một làng đa nghề, cả làng có tới hơn 40 nghề. Hầu hết các gia đình trong làng đều có từ 2-3 nghề, vừa sản xuất sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề thủ công và làm dịch vụ.

Hiện nay, phường rối làng Nguyễn xây dựng được nhà thủy đình và khu biểu diễn, đáp ứng được yêu cầu của khách tham quan, đồng thời có thể biểu diễn lưu động. Làng Nguyễn được xem là làng Văn hóa dân gian đặc sắc của Thái Bình, một địa điểm du lịch hấp dẫn.

2.7    Làng vườn Bách Thuận

Làng vườn Bách Thuận nằm sát sông Hồng, cạnh Quốc lộ 10, cách Thành phố Nam Định 5km, cách thành phố Thái Bình khoảng 13km; đất đai phù hợp để trồng các loại cây ăn quả và cây cảnh.

Bách Thuận là tên ghép của hai làng cổ: Thuận Vi và Bách Tính. Ở Thuận Vi xưa có nghề trồng dâu nuôi tằm.

Vào những năm 80 của thế kỷ trước, ở Thuận Vi có hàng trăm hec ta dâu, năng suất lá rất cao (90kg/sào) và hàng nghìn buồng nuôi tằm. Nuôi tằm, ngoài cái lợi chính là lấy tơ, còn có các nguồn lợi  phụ cũng không kém phần quan trọng, như nhộng tằm – thức ăn chứa nhiều đạm; nước luộc tằm kén có thể làm nước chấm, làm dược liệu.

Ngoài cây dâu, Thuận Vi còn có cây ngâu. Trồng ngâu, một thời gian cũng có giá trị cao. Từ thập niên 90 đến nay, những cây trái giá trị kinh tế thấp dần bị thay thế. Thuận Vi lâu nay là làng cây cảnh, trong làng còn có chùa Từ Vân, đền Bổng Điền đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa. Thuận Vi (Bách Thuận) thực sự là một điểm du lịch sinh thái, văn hóa hấp dẫn.

2.8    Khu di lịch Đồng Châu – Cồn Vành – Cồn Thủ

Khu du lịch Đồng Châu- Cồn Vành – Cồn Thủ thuộc huyện Tiền Hải, gồm: bãi biển Đồng Châu (thuộc xã Đông Minh) và hai cồn đảo là Cồn Vành và Cồn Thủ có diện tích khoảng 100ha và hơn 1000 ha đất bãi. Chức năng chính của khu du lịch này là phục vụ nghỉ dưỡng của du khách. Với ưu thế nằm sát biển, không gian , khí hậu trong lành, nguồn thủy hải sản phong phú, hệ sinh thái rừng ngập mặn khá điển hình, khu Đồng Châu- Cồn Vành – Cồn Thủ  đang được quy hoạch, xây dựng thành khu du  lịch sinh thái biển- một điểm tham quan, nghỉ dưỡng hấp dẫn của du lịch Thái Bình.

2.9    Cụm du lịch Diêm Điền

Cụm du lịch Diêm Điền thuộc huyện Thái Thụy, bao gồm các điểm: Rừng ngập mặn Thụy Trường, đình An Cổ, phủ thờ chúa Muối, khu lưu niệm Nguyễn Đức Cảnh.

  • Khu rừng ngập mặn Thụy Trường có diện tích 4km2, là rừng nguyên sinh được bảo tồn nguyên vẹn. Ở đây hội tụ nhiều loại chim quý như: Bồ nông, cò thìa, hạc trắng, mòng biển đầu đen… hệ sinh thái rừng ngập mặn Thụy Trường là nơi lý tưởng cho khảo cứu khoa học, tổ chức di lịch sinh thái và nghỉ dưỡng.
  • Đình An Cổ thuộc thôn An Cổ , xã Thụy An (Thái Thụy) theo truyền thuyết được xây dựng cùng thời với đình Cổ Trai (Hải Phòng), khoảng những năm đầu thế kỷ XVI. Đình dài 26 mét, rộng 10 mét, gồm 7 gian, không có móng, thiết kế theo kiểu kèo chồng giường. Toàn bộ sức nặng của ngôi đình dồn vào 44 cột: trong đó có 12 cột có đường kính 80cm, 32 cột nhỏ có đường kính 60cm. Sự lắp ráp toàn bộ chi tiết liên kết trong đình đều dùng mộng, không dùng đinh. Do đó, thân đình trở thành một hệ thống khung vững chắc có thể nâng lên, đặt xuống hoặc di chuyển ra chỗ khác cũng được. Cũng có thể tháo dỡ để thay thế bất kỳ một bộ phận nào mà không ảnh hưởng gì đến toàn bộ khung đình. Nét chạm khắc  trong đình rất tình xảo.

Với kiến trúc đồ sộ, đình An Cổ vừa hoành tráng, vừa mỹ lệ. Đình An Cổ còn nhiều hiện vật bằng gỗ  quý giá như: cuốn thư, hoành phi, câu đối cổ, những ban thờ lớn sơn son thiếp vàng, cùng các đồ bát bửu, tam sự, thất sự, sưu tập áo lậu, áo phạng, the, đoạn…Đây cũng là bộ sưu tập y phục tế rước hoàn chỉnh bậc nhất của Thái Bình hiện nay.

Trong kháng chiến chống Pháp, đình An Cổ  là địa điểm đặt văn phòng của Thành đội Hải – Kiến. Năm 1962, đình được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

  • Phủ thờ chùa Muối

Phủ thờ chùa Muối ở thôn Tam Đồng, xã Thụy Hải (Thái Thụy). Tương truyền vào thời Trần vùng đất này được gọi là Quang Lang Trang, cư dân chủ yếu sống bằng nghề làm muối và bắt cá. Trong làng có cô gái tên là Nguyệt Ảnh vừa nết na vừa xinh đẹp; nhưng lạ thay cô di đến đâu cũng có một đám mây nhỏ che trên đầu. Vì thế, cô không dám ra ruộng muối của làng, vị sợ người làng oán trách. Bố mẹ cô bèn sắm cho cô một chiếc thuyền nhỏ  để đi buôn muối.  Một hôm, đoàn thuyền muối của dân làng Quang Thanh ngược sông Nhị Hà (sông Hồng) thì gặp thuyền rồng của vua Trần Anh Tông. Vua thấy cô gái có nhiều nét lạ bèn đón về kinh đô. Ở trong cung vua một thời gian, cô xin được về quê thăm bố mẹ. Nhà vua đồng ý. Nhưng về quê không được bao lâu thì cô bị bệnh và mất. Từ đó, người trong vùng gọi cô là “Bà chúa Muối”. Hàng năm, cứ đến ngày giỗ của bà (14-4 âm lịch), dân làng Quang Lang mở hội. Trong hội  có mò “múa ông Đùng bà Đà” – một trong những điệu múa cổ xưa nhất của người Việt. Điệu múa mang đậm nghi lễ nông nghiệp với tín ngưỡng phồn thực độc đáo.

  • Khu lưu niệm Nguyễn Đức Cảnh

Nguyễn Đức Cảnh sinh ngày 2/2/1908 tại thôn Diêm Điền, xã Thụy Hải ( nay là thị Trấn Diêm Điền), huyện Thái Thụy. Đồng chí là một cán bộ xuất sắc trong phong trào vận động công nhân và là người đứng đầu Ban chấp hành Tổng Công hội Đỏ - tiền thân của tổ chức công đoàn ngày nay.

Ngày 4/4/1931, Nguyễn Đức Cảnh bị đế quốc Pháp bắt rồi kết án tử hình tại Hải Phòng ngày 31/8/1932.

Để tưởng nhớ công lao của  người chiến sĩ cộng sản kiên trung, tỉnh Thái Bình đã xây dựng khu lưu niệm Nguyễn Đức Cảnh trên quê hương Diêm Điền.


Nguồn tin: Theo Địa chí Thái Bình

St.Thúy Hường
 
Bản quyền thuộc Trung tâm xúc tiến du lịch Thái Bình
Địa chỉ: 194 Hai Bà Trưng - Thành phố Thái Bình
Mọi chi tiết xin liên hệ: Tel: 02273.645.806
Email: dulichthaibinhtb@gmail.com